Tác phẩm Việt NamTHƠ HAY

Thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến

Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) là một trong số những nhà Nho tài tử nổi tiếng vào thế kỷ 19. Ông sống trong giai đoạn suy thoái của nhà Nguyễn với các biến động về xã hội đang manh nha. Ông sáng tác cả chữ Hán và chữ Nôm, nhưng các bài thơ chữ Hán của ông mang nhiều tâm tư, ý chí và triết lý hơn.

Chúng tôi xin giới thiệu các bài thơ chữ Hán hay nhất của Nguyễn Khuyến.


ÁI QUẤT

Ái cúc dữ ái liên,
Cổ giả ái phi nhất.
Dư tính tố kiêm ái,
Vãn niên độc ái quất.
Ái vị tân bất liệt,
Ái vị toan bất lật.
Ái vị khổ phi đảm,
Ái vị cam phi mật.
Ký khả duyệt nhân khẩu,
Hựu khả liệu nhân tật.
Bất dữ cạnh phương phi,
Bất dữ tranh oái uất.
Tiểu viên tẩm dị an,
Long đông khởi năng khuất.
Quân tử tai nhược nhân,
Lục lục thiểu trù thất.

Bản dịch của Nguyễn Văn Tú

Yêu cúc cùng yêu sen,
Mỗi người ưa mỗi mặt.
Ta tính vốn yêu chung,
Đến già chỉ yêu quất.
Yêu vì cay không tê,
Yêu vì chua không gắt.
Yêu vì ngọt khác đường,
Yêu vì đắng khác mật.
Đã cho ta miếng ngon,
Lại có công dã tật.
Chẳng đua hương ngạt ngào,
Chẳng chen nơi sầm uất.
Vườn nhỏ từng sống quen,
Hơi đông khó lòng nạt.
Quân tử hẳn anh này!
Bọn thường khó đọ thật!


BÀI MUỘN kỳ 2

Ngũ thập suy ông bạch phát tân,
Bất kham ưu bệnh thả ưu bần.
Hoa hiên nguyệt ảnh tri phi khách,
Trúc kính phong thanh nghi hữu nhân.
Nhất chẩm hoàng lương chân diệc mộng,
Thiên niên khứ hạc ngã hà thân.
Toạ khan tức tiện phiến trung lão,
Ỷ chú hàm bôi bất kế xuân.

Bản dịch của Trương Việt Linh

Năm mươi già ốm tóc sương pha
Nghèo bệnh sao còn quản đến ta
Bóng nguyệt hiên hoa nào khách đến
Gió reo ngõ trúc ngỡ người qua
Trăm năm hạc vút mình đâu nhỉ
Một gối kê vàng mộng đấy a
Chiếc quạt trong tay ngồi ngắm mãi
Đầy ly đâu tiếc bóng xuân tà


CẢM SỰ

Phong tế trần ô hà xứ lai,
Nhật quang câu ảnh đệ tương thôi.
Yên phi giang thượng chu như điện,
Thạch lạc sơn gian pháo tự lôi.
Thế hữu thi thư vô sở dụng,
Thiên sinh thuỷ hoả các vi tài.
Độc cùng ngũ đại doanh hoàn ký,
Thuỷ tín hàn tuyền hữu kiếp hôi.

Dịch nghĩa

Cơn gió đã đem bụi nhơ từ đâu đến
Ánh mặt trời, bóng ngựa câu, cứ thi nhau chạy hoài
Khói tuôn trên mặt sông, thuyền nhanh như chớp
Đá lở bên sườn núi, tiếng súng nổ như sấm
Đời có thi thư, không dùng làm gì cả
Trời sinh ra nước, lửa đều được người ta sử dụng
Có đọc hết các sách trên thế giới nói về vũ trụ
Thì mới tin rằng ở dưới suối lạng cũng gặp vận kiếp hôi


DẠ SƠN MIẾU

Tranh chiến hà niên cục dĩ tàn,
Lâu đài không tại bán sơn gian.
Loa thành hưng phế cơ tiền định,
Quy trảo tồn vong sự bất quan.
Mai dịch khách lai phi tước hiệp,
Tùng lâm vũ quá mộ nha hàn.
Bá vương sự nghiệp thiên thu hậu,
Yên thụ thương mang nhất Dạ san.

Bản dịch của Hoàng Tạo

Chiến tranh tàn cuộc tự năm nào?
Lầu gác còn trơ lưng núi cao.
Thành ốc thịnh, suy cơ định trước,
Móng Rùa còn mất chuyện không đâu.
Mai đưa khách lạ, đàn công dạn,
Tùng gội mưa hôm, cái quạ rầu.
Vương bá ngàn thu đâu sự nghiệp?
Khói cây non Dạ một rừng sâu.


ĐẤU XẢO KÝ VĂN

Đấu xảo trường khai bách vật trần,
Y hà xảo dã xảo nhi tân.
Cận lai thuỳ tạc càn khôn khống,
Đáo thử phương tri vũ trụ xuân.
Viễn quốc phục trang chân quỷ dị,
Thâm lâm điểu thú tuyệt kỳ trân.
Tầm thường tệ ấp vô tha xảo,
Liêu tác quan thường mộc ngẫu nhân.

Bản dịch của Trương Văn Linh

Đấu xảo bày ra sao lắm kiểu
Khéo mà lại mới lạ lùng ơi!
Càn khôn lỗ ấy ai khoan sẵn
Vũ trụ xuân qua thấy khác đời
Rừng thẳm chim muông toàn vật quý
Áo quần nước lạ chẳng ra người
Tầm thường xứ mỗ không chi khéo
Tượng gỗ cân đai cũng góp vui


ĐIỆU LẠC DĂNG

Thuỵ khởi song khai tửu bán khuynh,
Thanh dăng hà sự hựu doanh doanh.
Sở cầu nhất lạp năng sung phúc,
Hà tất như hoàng tạc xảo thanh.
Liên nhĩ chi kham ỷ phiền cức,
Khi nhân bất giác lạc lê canh.
Thiên công sinh hoá chân đa sự,
Tỵ thử khu phân ý vị bình.

Dịch nghĩa

Ngủ dậy vẫn còn dở say, mở cửa sổ
Cớ gì rồi xanh nhiều thế
Cái nó tìm là một hạt gì để no bụng
Chẳng phải dùng nhạc khí để tạo âm thanh khéo
Thương ngươi chỉ quen ở bụi cây đám cỏ
Lừa người, không ngờ rơi xuống nồi canh
Sự sinh ra và biến đổi của thợ trời thật lắm vẻ
Tránh cái nắng, đuổi uế khí chưa được yên


ĐỘC DỊCH

Đông nhật tranh như hạ nhật trường,
Nam phong hoàn hữu bắc phong lương.
Tự vi khả khẩu, si sân phượng,
Bất tận cơ tâm, tước bộ đường.
Hải vũ nhược khai tân thế giới,
Dân phong ưng nhập cổ hồng hoang.
Thanh thần độc khởi quan Chu Dịch,
Tiêu tức doanh hư vị dị tường.

Dịch nghĩa

Ngày mùa đông tranh dài bằng ngày mùa hè?
Gió nồm qua rồi lại đến gió bấc lạnh.
Cú gầm ghè phượng hoàng, tự cho là mình có miếng ngon,
Sẻ bắt bọ ngựa, cơ mưu ở đời không lường hết được.
Vũ trụ hình như mở ra một thế giới mới,
Dân phong tựa như trở lại đời hồng hoang.
Sáng sớm dậy, một mình xem kinh Chu Dịch,
Cái lẽ đầy, vơi, suy, thịnh, chưa dễ hiểu được.


ĐỐI TRƯỚNG PHÁT KHÁCH

Sinh thục văn tự cách,
Tân xuân hựu phát khách.
Nhất nguyên chí thập nguyên,
Đa thiểu giá bình địch.
Hữu khách lai mãi chi,
Chỉ dĩ can lang bách.
Ngã văn tuy bất giai,
Khải bất xứng tam mạch.
Khách mãi giá hà liêm,
Bất xứng ngã bất dịch.
Trì lang khách thả quy,
Bất thụ ngã bất thích.
Khách khứ độc tư ta,
Văn tự nhất hà ách.

Dịch nghĩa

Một lối văn tự dở sống dở chín,
Mỗi lần năm mới đến lại đem ra bán.
Từ một đồng đến mười đồng,
Nhiều ít giá phải chăng.
Có khách đến mua câu đối,
Chỉ đưa một trăm miếng cau khô.
Văn của ta tuy chẳng hay,
Há lại không đáng ba tiền?
Khách mua sao trả rẻ thế?
Không đáng giá thì ta không bán.
Thôi khách hãy mang cau về,
Không bán được ta cũng không ngại.
Khách đi rồi ta than một mình:
“Văn chương chữ nghĩa mà cũng gặp vận ách đến thế!”


GIÁP THÂN TRUNG THU NGỤ HÀ NỘI HỮU CẢM KÝ ĐỒNG NIÊN CỬ NHÂN NGÔ

Thập niên thử địa, thử trung thu,
Thành quách y y cảnh dĩ thù.
Bạch chúc hồng đăng mê viễn cận,
Tố quan thanh cái tạp thuỳ ngô.
Tô giang hữu hận đào thanh cấp,
Nùng lĩnh vô tình dạ nguyệt cô.
Dạ cấm cận văn nghiêm túc thậm,
Thi ông tằng ức cựu du phầu?

Dịch nghĩa

Mười năm về trước ta ở nơi đây, cũng tết Trung thu này,
Thành quách còn y nguyên, nhưng cảnh đã khác.
Nến trắng, đèn đỏ, lấp loáng như gần như xa,
Mũ trắng, dù xanh, lẫn lộn ta với người.
Sông Tô như giận, tiếng sóng vỗ dồn dập,
Núi Nùng vô tình, mảnh trăng đêm lẻ loi.
Lệnh cấm đi đêm, gần đây nghe nói gắt gao lắm,
Nhà thơ có còn nhớ cuộc chơi trước kia không?


HOÀN KIẾM HỒ

Bất đáo Kiếm hồ tam thập niên,
Đương thì cảnh sắc dĩ mang nhiên.
Hành mao hà xứ khởi lâu các,
Già pháo đãn thanh vô quản huyền.
Huyền điểu quy lai mê cựu kính,
Bạch âu mộ hạ túc hàn yên.
Khả liên ngũ bách văn chương địa,
Thượng hữu cô sơn thạch nhất quyền.

Dịch nghĩa

Đã ba mươi năm không đến hồ Hoàn Kiếm,
Cảnh sắc thời ấy nay đã mờ mịt.
Những nơi nhà tranh cổng trống đều thành lâu đài,
Ban đêm chỉ nghe tiếng súng, tiếng kèn, không thấy đàn sáo.
Chim én tìm về quên cả lối cũ,
Âu trắng tối đến ngủ trong khói sương.
Đáng thương mảnh đất văn vật năm trăm năm trước.
Chỉ còn một hòn núi đá nhỏ như nắm tay trơ trọi.


KÝ CHÂU GIANG BÙI ÂN NIÊN

Mãn mục đa tân thức,
Thương tâm cố cựu hy.
Nhân cùng thiên vị định,
Đạo táng ngã an quy?
Tứ hải khai phong hội,
Thiên sơn lão quyết vi.
Châu giang tương ức xứ,
Hoa lạc điếu ngư ky.

Dịch nghĩa

Bao nhiêu thể thức mới bày ra đầy trước mắt,
Đau lòng vì bè bạn cũ thưa vắng dần.
Mưu của người đã cùng rồi mà cơ trời còn chưa định,
Đạo học mất rồi, ta biết đi về đâu!
Bốn biển mở ra phong hội mới,
Nghìn non rau quyết rau vi bỏ già!
Nhớ Châu Giang, nơi chúng ta cùng nhau khi trước,
Chắc bến câu hoa đã rụng đầy!


LÃO THÁI

Ngô niên ngũ thập ngũ niên linh,
Xú thái bàn bàn lão tận hình.
Xỉ bặc hàm toan như chúng tụng,
Nhãn hoa yểm quyển mạn truyền kinh.
Tự liên kính phát tam phần bạch,
Thặng hữu đan tâm nhất điểm linh.
Mạc quái bằng song liên nhật tuý,
Ngã vi bất tuý thục vi tỉnh?

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Năm mươi nhăm tuổi cái thân già,
Vẻ xầu dần dần lộ hết ra.
Răng vẹo buốt hàm như cãi cọ,
Mắt lòa gấp sách giảng ê a.
Ba phần tóc bạc càng thêm tủi,
Một tấm lòng son vẫn có thừa.
Đừng trách bên song say khướt mãi.
Không say, thì tỉnh với ai mà?


LƯU GIẢN THỊ MÔN ĐỆ

Tiêu tiêu phong vũ nhập thu thanh,
Vạn lý quy hoài nhất nhật sinh.
Đường bắc hữu thân nan cửu biệt,
Tịch tây như ngã hại vi tình.
Thư đăng chiếu khách tâm do bạch,
Giang nguyệt tuỳ nhân sắc cộng minh.
Ban mã dục hành hành thả chỉ,
Minh triêu ngoạ thính hải đào minh.

Dịch nghĩa

Gió mưa dào dạt hoà thành điệu thu thanh,
Một sớm nhớ quê xa muôn dặm, nảy ra ý muốn về.
Thềm bắc còn có mẹ, vắng mãi sao đành
Ngồi chiếu phía tây như mình nghĩ sao yên dạ
Ngọn đèn đọc sách soi tỏ lòng nhau
Mảnh trăng trên sông theo người rọi sáng
Vó ngựa chia phôi toan bước lại dừng
Chỉ sớm mai là đã nằm nghe sóng bể


OA CỔ

Văn đạo thôn thôn cấm cổ già,
Ngã trì oa cổ triệt tiêu quá.
Sất chi lương cửu phục như thị,
Lệnh tại chư quân bất uý da.
Hoặc ái u cư đa đạm bạc,
Thả dung nhất bộ tác phồn hoa.
Vị tri cường hạng hà nhân giả,
Quá thử hoàn đương thức nộ oa.

Bản dịch Trương Việt Linh:

Kèn trống nghe rằng cấm ở đây
Ao ta trống ếch suốt đêm nay
Quát im mà cứ rền như thế
Lệnh cấm nhưng sao chẳng sợ này
Bởi thấy chốn quê hơi quạnh quẽ
Nên bày ca nhạc cốt vui say
Nào ai vững dạ đi qua đó
Tiếng ếch ồm vang vía cũng bay


SƠ HẠ

Tạc dạ trì biên sinh nộn hà,
Thần song bất giác hạ sơ qua.
Bán không phong dẫn diên ngâm địch,
Kỷ xứ chi tàng ương lộng ca.
Ấp phụ tương tranh ngôn ngữ tục,
Lân quan bất mị tính tình đa.
Du nhiên phù trượng dục thừa hứng,
Mãn nhãn trần ai nại nhĩ hà?

Dịch nghĩa

Đêm qua, bên ao búp sen đã nhú,
Buổi sáng bên cửa sổ, không biết đã chớm sang hè.
Lưng trời, gió đưa tiếng sáo diều vẳng tới,
Đây đó, khuất trong cành cây chim chóc ríu ran.
Mấy bà nhà quê cãi nhau, lời qua tiếng lại tục tĩu,
Bác hàng xóm goá vợ không ngủ được, trong lòng bao nỗi ngổn ngang.
Muốn nhân hứng lâng lâng chống gậy dạo chơi,
Nhưng đầy mắt là bụi bặm, biết làm sao được?


THẠCH HÃN GIANG

Thạch Hãn giang lưu nhất trạo hoành,
Tịch hà yểm ái viễn sơn minh.
Tây phong hà xứ xuy trần khởi,
Bất dĩ niên tiền triệt để thanh.

Bản dịch của Hoàng Tạo

Khua ngang dòng Hãn một con chèo,
Lấp loáng non xa nhuộm nắng chiều.
Trách trận gió tây tung cát bụi,
Chẳng còn như trước nước trong veo.


THU DẠ HỮU CẢM

Sơn hà liêu lạc tứ vô thanh,
Độc toạ thư đường khán nguyệt minh.
Hà xứ thu phong xuy nhất diệp,
Dẫn lai vô hạn cố viên tình.

Dịch nghĩa

Non sông bốn mặt lặng như tờ,
Một mình ngồi nơi nhà học ngắm trăng sáng.
Gió thu từ đâu thổi bay tới một chiếc lá,
Gợi lên biết bao nỗi niềm nhớ quê hương.


TIỂU HÀN

Vũ úc hàn dương bất khả kỳ,
Doanh hư tiêu tức thục tiên tri.
Cốt băng nhĩ địch ngã nghi ngã,
Hạng lạp điền thoa thuỳ vấn thuỳ.
Bạng thế tiểu mai khai khẩu tiếu,
Định sào tân yến cách liêm khuy.
Tích nhân diệc hữu như dư giả,
Kịch tuý cuồng ca dã vị si.

Bản dịch của Trương Việt Linh

Ấm lạnh gió mưa chẳng hẹn kỳ
Vơi đầy còn mất khó tiên tri
Tai ù xương buốt mình ngờ mượn
Nón phủ tai che khách ít lời
Xây tổ rèm thưa con én ngó
Bên thềm miệng hé đoá hoa cười
Người xưa sánh với ta nào khác
Say khước ngâm tràn thoả cuộc chơi


TÚY NGÂM

Dục tri tuý ông lỗi lạc chi kỳ tài,
Dã tu nhất ẩm tam bách bôi.
Hữu thì thổ mạt tác vân vũ,
Diệc hoặc tranh nhãn vi phong lôi.
Lý Bạch bộ kình sự phi đản,
Bành Trạch thái cúc tâm bất quai.
Thế gian dục tuý tuý bất đắc,
Toán lai vạn sự câu trần ai.

Bản dịch của Trương Việt Linh

Ông say quả thật giỏi tài chưa
Một uống ba trăm chén mới vừa
Có lúc mắt trừng gây sấm gió
Nào khi đất dậy nổi mây mưa
Bắt kình họ Lý tài khôn lạ
Hái cúc ông Đào dạ vốn ưa
Mấy kẻ muốn say say chẳng được
Không say đời cũng kể như thừa


TỰ THUẬT kỳ 1

Lục dã quy lai tứ ngũ kỳ,
Bà bà bạch phát phục hà vi.
Nhất bần mạo sấu kiêm thân sấu,
Đa bệnh hình si diệc ảnh si.
Tôn tửu lũ không hoàng cúc tiếu,
Tài thư bất tựu bạch âu nghi.
Vị tri lai thế thuỳ vi ngã,
Đáo thử phong lưu dã thị thuỳ.

Bản dịch của Khương Hữu Dụng và Nguyễn Văn Tú

Đã bốn, năm năm trở lại nhà,
Làm gì được nữa, tóc phơ phơ.
Cảnh nghèo mặt võ thân thêm võ,
Người bệnh hình trơ, bóng cũng trơ.
Vò cạn hoa vàng như muốn giễu,
Thư không âu trắng hẳn sinh ngờ.
Kiếp sau ai sẽ là ta nhỉ?
Ai sẽ phong lưu sánh kịp ta?


ĐỘC TỌA

Độc toạ bắc song thượng,
Nhật vũ hà thê thê.
Hàn đa tân cốc vãn,
Vân trọng viễn sơn đê.
Tẩm nhuận tường sinh nhĩ,
Oanh vu tửu đáo tề.
Bất tri xuân sắc đạm,
Nhất điểu lược sơn tê (tây).

Dịch nghĩa

Ngồi một mình ở cửa sổ phía bắc,
Ngày nào cũng mưa, lạnh lẽo làm sao.
Rét nhiều nên lúa mới chín muộn,
Mây dầy núi xa như thấp xuống.
Nước mưa ngấm lâu, bức tường đã mọc tai,
Rượu uống vào quanh co xuống đến tận rốn.
Không biết màu xuân đã nhạt,
Một con chim bay vượt qua phía tây núi.


XUÂN DẠ LIÊN NGA

Tiện nhĩ tiêm tiêm nhất vũ hàn,
Đầu minh nhi tử tử nhi an.
Nhược vi thảng thốt lâm nghi dị,
Đáo đắc thuân tuần biện diệc nan.
Tố phú tri năng do vị dẫn.
Đương tiền danh lợi bất tương quan.
Cô đăng sát nhĩ do liên nhĩ.
Đáo đắc thành hôi lệ vị can.

Dịch nghĩa

Khen mày là loài có đôi cánh bé nhỏ,
Gieo mình vào chỗ sáng mà chết, chết thế mới an lòng.
Nếu là thảng thốt mà sa vào cái chết thì còn dễ,
Nhưng thong thả mà quyết chết được mới thực là khó
Lương tri, lương năng trời phú cho còn chưa mất,
Nên danh lợi ngay trước mắt cũng không vướng víu gì.
Ngọn đèn cô quạnh giết mày nhưng cũng thương mày,
Cho đến lúc thành tro mà lệ vẫn chưa khô.


VỊNH NHẠC VŨ MỤC

Sổ hành kim tự đáo quân trung,
Thập tải hùng tâm nhất nhật không.
Thiên địa hà tâm lưu ngọc cối,
Giang sơn hữu lệ đáo Hoàng Long.
Không lưu nhân thế vô cùng hận,
Uổng phí sa trường kỷ độ công.
Đáo để anh hùng tâm tự bạch,
Bách niên thuỳ nịnh cánh thuỳ trung.

Dịch nghĩa

Mấy hàng chữ vàng đưa đến trong quân
Mười năm sự nghiệp anh hùng một ngày mất hết
Trời đất lòng nào lưu cây ngọc
Non sông có nước mắt đến hoàng long
Không giữ lại trên đời mối hận vô cùng
Uổng phí bao nhiêu công lao ở chốn sa trường
Cuối cùng tấm lòng người anh hùng cũng tự sáng tỏ
Trăm năm ai nịnh với ai trung

Nhạc Vũ Mục tức Nhạc Phi, danh tướng đời Nam Tống. Lúc ấy, trong triều đình Nam Tống chia làm hai phe là phe chủ chiến do Nhạc Phi cầm đầu (chủ trương đánh) và phe chủ hoà do Tần Cối cầm đầu (chủ trương đầu hàng). Tần Cối giả lệnh vua, một ngày hạ 12 đạo kim bài (lệnh viết trên thẻ bài bằng gỗ thếp vàng) bắt Nhạc Phi đem quân về, lần cuối cùng Nhạc Phi than một câu rằng: “Công lao mười năm một ngày bỏ đi” rồi đem quân về, liền bị Tần Cối bỏ ngục rồi giết đi.


XUÂN NHẬT THỊ GIA NHI

Đồi hồ mao phát tiệm tham tham,
Bất giác niên đăng ngũ thập tam.
Đương thế thi thư hà sở dụng,
Lão lai quan đới thượng đa tàm.
Loạn ly xuân sắc chân vô lại,
Ưu khổ nhân tình tổng bất kham.
Đối thử quang âm hà dĩ uý?
Chư nhi do tự tửu ca hàm.

Bản dịch của Nguyễn Khuyến

Tuổi thêm, thêm được tóc râu phờ,
Nay đã năm mươi có lẻ ba.
Sách vở ích gì cho buổi ấy,
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già.
Xuân về ngày loạn càng lơ láo,
Người gặp khi cùng cũng ngất ngơ.
Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng,
Sao con đàn hát vẫn say sưa?

 

 

Học Viết
Học Viết là chuyên trang về tuyển chọn các áng văn chương Việt Nam, qua đó giúp cho độc giả nắm được thế nào là một bài viết hoặc một tác phẩm hay.
Share:

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *