ÁNG VĂN HAYHồi ký

Đốt lò hương cũ (7): Hà Nội văn nghệ những ngày báo hiệu loạn ly

Chúng tôi ra đi mang theo cả linh hồn Hà Nội, từ mùa thu 1954. Và Hà Nội trong tôi, đã hơn 10 năm cách blệt vẫn còn giữ nguyên bóng dáng một tình nhân cua tuổi 20. Tại sao lại tuổi 20 ? Nếu kể từ ngày Hà Nội bắt đầu có tên Hà Nội (hình như vào nãm 1831) thì ít nhất Hà Nội cũng đã hơn 100 tuổi. Nếu lại kể từ khi «ở đây nhà Lý đông đô… » nghĩa là từ khi cái tên Đại La Thành được cải hiệu là Thăng Long, để rồi từ đó Thăng Long được coi là « miền linh địa kết tụ anh hoa tú khí của non sông, đất cố đô của tiên vương có đủ tay Long, tay Hổ… » thì Hà Nội văn vật, Hà Nội lịch sử của chúng ta đã có cả gần một ngàn năm tuổi. Đối với tất cả những người dân Hà Nội hiện còn sống dưới ánh sáng mặt trời, dĩ nhiên Hà Nội là một cố nhân chẳng còn thơ trẻ, và gương mặt Hà Nội một phần lớn thuộc về dĩ vãng với rất nhiều di tích lịch sử, tôi vẫn cứ thấy Hà Nội là của cái tuồi 20, và đáng thương, đáng nhờ, đáng yêu nhất vẫn là khuôn mặt Hà Nội 20 tuổi.

Có lẽ tại vì tuổi trẻ của chúng tôi đã tham dự vào tất cả những biến cố lịch sử đáng kê nhất của tiền bán thế kỷ 20: Chúng tôi đã sinh trưởng, lớn lên, và khởi sự « nhập cuộc » -khởi sự bước chân vào cái thế giới thần thoại của Yêu Đương, Mộng Ảo, và Văn Nghệ – từ trong lòng một Hà Nội thanh bình, một Hà Nội đang hồi cực thịnh của trào lưu Lãng Mạn tiền chiến (1935 — 1940). Để rồi, tuổi thanh xuân của chúng tôi đang độ nở hoa bồng bột nhất, liền bị giao động đến tột cùng bởi những sóng gió cuồng loạn khởi đầu cho Cơn Mê Hoảng Dài của Thời Đại Chiến Tranh Nguyên Tử. Đã ba lần tuổi trẻ của chúng tôi phải xa lìa Hà Nội : một lần sau đảo chính Nhật (1945), khi mà phi cơ Đồng Minh hàng ngày đe dọa oanh tạc các căn cứ quân sự của binh đội Phù Tang. Cả Hà Nội hàng ngày đã phải rời bỏ 36 phố phường quen thuộc để tạm tản cư về những vùng quê ngoài 5 cửa ô Hà Nội – tạm tản cư từ sáng sớm đến chiều tối, để rồi khi thành phố lên đèn, tất cả lại từ 5 cửa ô kéo về, tựa những con thiêu thân lao mình vào cái ánh sàng phù hoa của một kinh thành vẫn còn rạt rào sinh khí, chỉ cốt sống được tràn đầy, dù chỉ một đêm.

*

Ba lần xa lìa Hà Nội, tuổi trẻ của chúng tôi đã khóc cười, hờn giận, đau xót, căm hờn, thù hận, oán thương cùng với một Hà Nội ba lần biến diện : 9-3-1945, Đảo Chính Nhật là lần thứ nhất. Lần thứ nhì : Chiến Tranh toàn quốc 1946 (tảu cư, kháng chiến rồi lại hồi cư). Và lần thứ ba : mùa thu 1954 (Hiệp Ước Genève, chia đôi đất nước, di cư vào Nam !). Ba cuộc chia ly, giữa thời kỳ hoa niên giàu nhiệt tình nhất, tất cả kỷ niệm nào đối với tôi cũng sâu đậm khó quên. Càng khó quên hơn nữa là gương mặt thủ đô trước cơn bão loạn. Gương mặt người tình trước thời khắc ly tan, chỉ cần một nét chau mày, cũng đủ mang ý nghĩa một điềm linh ứng.

*

Buổi chiều muộn cuối thu của Hà Nội năm đó hình như thấm lạnh nhiều hơn mọi năm. Một cái lạnh rờn rợn trên da thịt, khiến nhiều lúc, dù trời không nổi giỏ, người ta cũng thốt rùng minh, như khi sắp lên cơn sốt rét. Mùa thu 1946, một mùa thu lịch sử: mùa thu báo hiệu chiến tranh!

Thành phố đã lên đèn, cái ánh điện vàng u uất, dù phối hợp bởi tất cả những phản quang xa hoa của tất cả trà đình, tửu điếm tráng lệ vùng trung tâm đô thị, cũng không đủ sưởi ấm lòng người, nhất là lòng người nghệ sĩ đãng tử đang di dạo quanh bờ liễu tiêu sơ của Hồ Hoàn Kiếm.

Liễu rũ xuống hồ, như những mái tóc bệnh nhân sầu muộn soi gương. Lòng hồ, vẫn những đám mây xám nặng chĩu, in hình những mái nhà thấp thoáng ẩn hiện, như những bóng dáng lâu đài lịch sử hoang liêu từ thiên cổ chìm trong đáy nước.

Thành phố thiếu hẳn sinh khí. Mới tám giờ tối, đã nhiều hàng đóng cửa. Đêm kinh kỳ xưa tưng bừng đài các, giờ lạnh lùng, ngao ngán buông trên những hàng cây âm thầm đứng xõa tóc như ma bên lề đường quạnh vắng. Đêm thẫn thờ len lỏi quanh những “ụ chướng ngại” sừng sững chắn ngang đường. Đêm dài dằng dặc ngưng đọng trong những hầm lộ thiên, những “hố cá

Nhân” đào vội, rải rác như những nấm mồ vô chủ vừa cải táng trong một nghĩa địa nửa thực nửa hư.

Giữa những màu sắc, những hình thể nửa vời tàn tạ, còn lại một chút sinh khí mong manh, nhưng dù mong manh, lúc này cũng đáng kể là một cái gì ấm cúng, dấu hiệu của sự sống vẫn còn ấp ủ được chút hơi thở nhiệt tình : Xế gốc hồ phía Bắc, nổi lên vùng ánh sáng của “Quán Nghệ Sĩ”, một trà đình thường được mệnh danh là “Câu Lạc Bộ Văn Nghệ”, chỗ họp mặt của bọn người viết, vẽ hoặc đàn, hát… Sự thực quán bán những hàng xa xỉ quá mức thường, nên nghệ sĩ cũng ít khi lui tới. Khách hàng phần đông là người ngoại quốc.

Thoảng tiếng dương cầm dìu dặt. A ! Tối nay “Quán Nghệ Sĩ” có ban âm nhạc trình diễn. Ở đầy âm nhạc chỉ trình diễn bất thường, và có dàn nhạc trình diễn lúc này, giữa những ngày Hà Nội đang đầm mình trong cơn sốt định kỳ trầm trọng – những ngày báo hiệu chiến tranh – quả là một hiện tượng đáng kể, một hiện tượng cũng “xa xỉ” như những xa xỉ phẩm thuộc loại đắt tiền nhất của thời đại.

Ban nhạc “Quán Nghệ Sĩ” gồm có Giệp : hồ cầm (hiện đã qua đời), Hiếu : dương cầm, một tài tử trung hồ cầm (mà tôi không nhớ tên); và Nguyễn Xuân Khoát với cây đại hồ cầm (contrebasse) mà anh em nghệ sĩ vẫn gọi đùa là “Ngưu Cầm” hoặc nôm na hơn, là “đàn bò”.

Âm nhạc quyến rũ, nhưng không khí “Quán Nghệ Sĩ” vẫn tẻ lạnh. Lác đác một vài bóng tri âm… nhi đồng ngấp nghé ngoài cửa, không biết để nghe đàn hay chỉ để nhìn cái “đàn gi mà to như cả một cái gác-măng-dê”, và cao lênh khênh vừa bằng anh Nguyễn Xuân Khoát đứng kiễng chân.

Các nhạc sĩ vừa dạo xong một cầm-tấu-khúc mở màn. Mọi người uể oải dừng tay, ngồi quây chung quanh một chiếc bàn góc trong cùng lặng lẽ nhìn nhau. Hình như họ đều cảm thấy đêm nay chơi nhạc không có hứng chút nào.

Bỗng có tiếng giầy cồm cộp gõ ngoài vỉa hè, tiếng cười vang vang, tiếng nói ồm ồm. Không cần phải có tài thẩm âm sành sỏi cũng nhận thấy ngay tiếng giày đó là tiếng giầy “săng đá” của lính Tây, tiếng cười nọ là tiếng cười sặc sụa hơi men của những người say, vả tiếng nói ồm ồm kia, với âm hưởng khá lạ tai, nhất định là tiếng nói của người ngoại quốc, nhưng không phải tiếng Pháp.

Tiểng giầy đinh sền sệt tiến về phía quán.  Lũ trẻ con đang đóng vai Tử Kỳ nghe trộm, bỏ chạy tán loạn, nhừ vừa trông thấy quỷ nhập tràng.

Đó Ià  một toán bốn người lính lê dương, trong đoàn quân viễn chinh của tướng Morlière, có mặt tại Việt Nam từ sau cái hiệp định sơ bộ 6-3-46. Họ ùa vào

Quán như một cơn gió lốc. Họ đã say rượu sãn từ bao giờ. Bốn bộ mặt đỏ gay như bốn ông mặt trời xích đạo, bốn bộ mặt gà trọi bừng bừng sát khí đột ngột xuất hiện, khiến cho cái “Quán Nghệ Sĩ” hiền lành này bỗng dưng “thức dậy”, như người vừa tỉnh giấc ngủ gà ngủ gật, đầu óc vẫn còn ngây ngất, bàng hoàng. Không khí đang tẻ lạnh cũng được hâm nóng lên bởi những hơi thở say nồng vị “cô-nhắc”, những hơi thở say tưởng chừng có thể bùng lửa cháy ngùn ngụt, nếu được châm mồi bằng một que diêm. Trong hơi thở ấy, và trong cơn gió cuốn theo vào phòng, người ta tưởng ngửi thấy cả mùi thuốc súng, cùng một thử mùi gì hăng hắc nồng nàn, cái mùi “tứ chiếng” đặc biệt của xa khơi, phảng phất như có trộn lẫn cả mùi gió biển, mùi cỏ dại thảo nguyên, mùi gió lửa sa mạc.

Bốn ông khách viễn phương nghênh ngang, ngất ngưởng vả ngật ngưỡng tiến thẳng về phía quầy rượu, súng lục kè kè bên hông. Ba kẻ nhẩy lên ba chiếc ghế cao cẳng, ngồi tựa vào quầy với dáng điệu rất mã thượng, y như nhẩy lên mình ngựa. Còn một kẽ nhẩy tót hẳn lên quầy rượu, ngồi sừng sững trên mặt quầy, thản nhiên cao ngự trên đó, chẳng khác ngồi trên “đi-văng” ở nhà riêng.

Các nghệ sĩ trong quán e ngại nhìn bốn ông khách quý. Tuy không ai nói một câu, nhưng tất cả đều tỏ ý không mấy hưởng ứng. Nhất là Nguyễn Xuân Khoát, ngoài tiếng “đàn bò”, vốn không chịu được những cái gì ồn quá, kế cả tiêng trống ả đào “sực tắc”, mặc dầu Khoát xưa nay vẫn mê nghiên cứu về nghệ thuật hòa tấu của dàn nhạc Ca Trù. Bọn khách hàng võ biền, chiếu cố tới “Quán Nghệ Sĩ” với các thế ồn ào cùa một toán quân đi chinh phục vừa đột nhập vào một đồn lẻ, hẳn không phải là để giải khát hoặc nghe nhạc, mà có lẽ chỉ để gây sự, để tạo nên đổ vỡ, phá phách, nghĩa là để thỏa mãn cái tính hiếu chiến, hiếu sát và hiếu thắng của những kẻ đang có ưu thế của sức mạnh võ khí.

Thời đó, ai cũng biết đoàn lính lê dương chuyên đánh nhau thuê của tướng Morlière, tư lệnh Đệ Nhất Sư Đoàn quân đội viễn chinh Pháp, mệnh danh là “Tiếp Phòng Quân” của lực lượng Đồng Minh, với nhiệm vụ giải giáp quân đội Phù Tang “và giữ gìn an ninh, trật tự” trên lãnh thổ Bắc Việt, “đoàn quân vong mệnh” tập hợp nhiều quốc tịch khác nhau đó gồm đủ mắt mèo cùng rạch mặt, tóc xoắn trôn ốc cùng tóc đỏ hung hung, da trắng, da nâu cùng da đen bồ hóng… Chiếm đóng lại năm thị trấn xung yếu : Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn, Hải Dương, Nam Định, ngay từ lúc chiến tranh toàn quốc chưa bùng nổ, đoàn quân ấy đã nổi tiếng là lũ “Kiêu Binh của thời đại Tân Chiến Quốc”, với những thành tích gây hấn rất… chuyên nghiệp và rất văn minh! Họ thi hành nhiệm vụ “giữ gìn an ninh và trật tự” nghiêm chỉnh quá, đến nỗi đa số người dân Hà Nội không còn muốn bước chân ra đường buổi tối. Trên những phố dài thu hình dưới ánh đèn phòng thủ thê lương, thỉnh thoảng một vệt đèn “pha” sáng rực quét lướt trong sương đêm như một tia chớp nhoáng. Đó là lúc đám kiêu binh ngự trên những chiếc xe cơ giới hoặc chiến xa đi dạo quanh thành phố – có lẽ để tiêu khiển cho rãn gân rãn cốt. Mỗi khi ngửa tay hoặc cao hứng, họ lại bắn chơi một tràng tiểu liên vào mấy cái ụ chướng ngại đầu đường. Như vậy, có lần cả một gánh phở, cả thùng nước lèo bị đạn tiểu liên xạ kích tơi bời. Còn ông hàng phở may mắn lăn được xuống một cái hố cá nhân trốn thoát…

Những cuộc đùa rỡn cùa lũ Kiêu-Binh-Tân-Chiến-Quốc cứ như thế tiếp diễn từng đêm. Và từng đêm, qua các khu phố Hà Nội nín thở, những tràng liên thanh vẫn nổ ròn. Vừa mấy đêm trước đây, chính những người chơi nhạc trong “Quán Nghệ Sĩ” này từng nghe tiếng vang lên ngay bên tai tiếng rú máy kinh khủng của một chiếc xe bọc sắt lao vút qua góc đường xế cửa, kèm theo điệu nhạc dữ dội của một tràng liên thanh hình như nổ tung ngay trong đầu óc họ.

Cái viễn tượng của chiến tranh, bom đạn, giết chóc đã trở nên một đe dọa thường xuyên, hàng ngày, hàng đêm ám ảnh họ. Đám kiêu binh mỗi lần xuất hiện lại càng khiến cho sự đe dọa thêm trầm trọng, vì mọi người đều nhìn thấy ở đoàn lính viễn chinh hỗn hợp kia hình bóng cụ thể nhất và linh động nhất của chiến tranh, cảm giác nặng nề và ngột ngạt đến khó thở, từng làm căng thẳng thần kinh hệ mọi người, tối nay càng thêm giao động mãnh liệt trong tâm thần bất an sẵn của các nhạc sĩ.

Bốn chàng lê dương say bỗng dưng đột kích vào “Quán Nghệ Sĩ” hiển nhiên là bốn hung thần hiếu chiến, hiện thân của phá phách, của tai họa! Người ngồi trên quầy cất giọng gọi rượu mạnh, giọng say nhè như đã ngấm tất cả cốc thử rượu “mạc-sê-noa” của kinh thành Hà Nội. Ba người kia cùng gọi theo: “Rượu mạnh! Rượu mạnh!” Bằng một thứ tiếng Pháp pha trộn âm hưởng thổ ngữ Nhật Nhĩ Man, uốn lưỡi mạnh và nhanh, phi hơi dưới vành môi hung tợn như rân phun. Thì ra đó là những người lính Đức, trong đoàn quân lê dương viễn chinh, vẫn được tiếng là can trường, bạt mạng và ngổ ngáo hơn cả, và trong đám “kiêu binh bạch chủng”, có lẽ xứng đáng hơn hết với cái hỗn danh là “kiêu bình”.

Bốn ông lính Đức này xem chừng không có bản chất văn nghệ chút nào, tuy rằng, nếu sẵn ý tưởng lạc quan, rất có thể họ coi họ là hậu sinh của những Bach, Beethoven, Schumann, của những Schlier, Goethe…

Nhưng khi trời Hà Nội đang chìm trong cơn bệnh u uất. Chẳng ai lạc quan được lúc này. Cho nên các nhạc sĩ chỉ còn biết tặc lưỡi, lắc đầu, khi thấy mấy ông “tẩy say” đã say tới cái độ không biết mình say… mà còn gân mãi cổ lên gọi rượu mạnh!

Không đợi rượu mạnh mang tới, họ vồ lấy cả chai Whisky bầy trong tủ hàng, và không đợi cốc đưa lại, họ mở nút, chuyền tay nhau chai rượu mà tu ừng ực. Cái lối uống rượu không văn nghệ như vậy khiến các nhạc sĩ trong quán bắt đầu lo ngại, khó chịu. Nguyễn dằn cốc cà phê xuống bàn, những ngón tay bứt rứt bỗng chạm vào giây đàn Contrebasse, nảy lên một âm thanh u trầm, như một tiếng rên còn nghẹn trong cổ họng. Mấy ông khách quỳ đang vừa chuốc rượu lẫn cho nhau vừa hát – họ đồng ca một bài chắc là ngẫu hứng và có lẽ đề tụng Tửu Thần Bacchus. vì, chen vào những câu hỗn độn đủ các thứ nhịp, đủ các thứ điệu, luôn luôn thấy họ nhắc lại như một điệp khúc : Whisky ! Whisky ! Whisky vạn tuế ! … bỗng họ quay cả đầu lại vì tiếng “ngưu cầm” rền rĩ.

Bốn cái miệng say đồng thanh kêu lên:

– Âm nhạc ! À âm nhạc! Chơi nhạc đi, các ông nhạc sĩ !

Bốn cái mặt đỏ gay, tám con mắt nảy lửa cùng hướng về phía các nhạc khí và các nhạc công.

  • Chơi nhạc đi ! Chơi nhạc đi !
  • Ô là ! Chơi nhạc đi ! Các ổng ngủ gật đấy hả ?

Các nhạc sĩ dù có ngủ gật thực sự cũng phải tỉnh ngủ từ lâu rồi. Nhưng chơi nhạc lúc này làm sao cho có hứng được ? Chơi nhạc cho mấy cái tai “tẩy say” kia nghe, và chơi cho âm điệu vào lọt mấy cái tai ấy, nếu không phải là một cực hình, thì nhất định cũng không phải là cái thú. Hiếu đưa mắt nhìn Giệp, Giệp đưa mắt nhin Khoát, Khoát đưa mắt nhìn chiếc… “đàn bò”, ngần ngại.

Bọn khách quỷ đổ xô tới vây chung quanh bàn nhạc sĩ, y hệt như bao vây một cái đồn lẻ cửa địch quân ngoài trận tuyến. Một kẻ khiêng bổng cây đàn “contrebasse” lên, đặt ngang vào hai tay Nguyễn, miệng thét:         

  • Các ông nhạc sĩ! Chơi đàn đi! Hay muốn để đàn… “chơi” các ông đấy?

Một kẻ mở ngay nắp chiếc dương cầm ra, sắn tay áo lên, hai cánh tay lông lá trổ hình hai con rắn quấn vòng quanh, mà đầu rắn lại là đầu một người đàn bà man rợ. Đồng thời, hai bàn tay hộ pháp đập lia lịa trên hàng phím ngả trắng xóa… Nhạc sĩ dương cầm thương xót nhìn chiếc đàn xấu số của mình đang gặp tai nạn…

Bỗng một tướng khác, với hai cánh tay cũng lông lá không kém, nhắc bổng cả anh ta cùng chiếc ghế anh ngồi lên, bưng đến bên cạnh dương cầm, đặt anh xuống, và gào to như ra lệnh:

— Im lặng ! Im lặng tất cả ! Dàn nhạc sắp sửa trình diễn ! Các ngài hãy lắng tai : Đây là bản Hợp Tấu của im lặng ! (Symphonie du Silence).

Đoạn, nhanh như chớp, kẻ vừa nói rút ngay khẩu súng lục bên hông, bắn luôn một tràng đạn chỉ thiên lên trần. Căn phòng rung chuyển, ngọn đèn điện lớn

treo giữa quán vỡ tung từng mảnh, tắt phụp.

Căn phòng vụt trở nên mơ hồ, ảm đạm, chỉ còn ánh điện “neon” bàng bạc tím lẫn ven tường. Và căn phòng yên lặng như nghẹt thở.

Tiếng cười điên rồ từ bốn cái cổ họng say liền vang lên, rờn rợn, tưởng như không bao giờ ngừng.

Sau vài giây đồng hồ choáng váng, Nguyễn Xuân Khoát điềm nhiên mở tập nhạc bản chọn một bài, để lên giá đàn dương cầm, trước mặt Hiếu, và hất hàm làm hiệu với Giệp cùng người bạn sử dụng trung hồ cầm. Nhạc sĩ dương cầm lặng lẽ liếc nhìn qua bản nhạc, rồi những ngón tay, như cỏ nam châm hút vào phím ngà, bắt đầu lướt trên cung bậc.

Những âm thanh dương cầm đầu tiên rung lên bị lấp ngay bởi tiếng cười ồn ào chưa dứt. Cây hồ cầm hòa theo, vút như hơi gió. Tiếng trung hồ cầm nhập điệu ngân nga. Nhịp giây trầm trầm của chiếc contrebasse cũng bắt đầu ngập ngừng đồng vọng. Âm hưởng của bốn nhạc khí dần dần trộn lẫn, hợp thành một tiếng vang duy nhất, một tiếng vang khích động và lôi cuốn, và chiêu dụ với một hấp lực kỳ lạ – một điện lực thì đúng hơn – một tiếng vang vươn cao, tỏa rộng, bao trùm, phút chốc xóa nhòa tất cả, trấn ngự tất cả, khiến tất cả đều chìm đi – thực cảnh không còn nữa, chỉ còn một nguồn suối nhạc mênh mang đang dâng lên, dâng lên như một trùng dương thần thoại. Tiết điệu bản nhạc cũng như nổi thành vóc dáng. Âm hưởng run rẩy quyện vào nhau, dìu nhau lênh đênh trôi vảo ánh sảng, hòa vào không gian những tiếng sắc, tiếng đồng mê hoảng.

Căn phòng quán trà vụt im lặng. Đám quân nhân không cười nữa, ngồi xuống ghế.

 Tiếng nhạc lại nổi lên, ma quái. Không gian trở nên bát ngát, huyền hoặc. Mỗi âm đàn như có một linh hồn đột ngôt hiện lên hình thể, sắc màu, rồn rập, xô đẩy nhau, chuyển biến đến vô cùng. Mỗi âm đàn như một gương mặt quen thuộc, vừa gặp gỡ mà tưởng chừng đã xa vắng tự muôn đời – tất cả sáng lên rồi lại mờ đi trong một nguồn dạ quang lung linh hư hảo. Ánh sáng cũng hình như có thể chất, và, giữa vùng âm thanh bập bềnh sương khói, những “nốt” nhạc hiện hình múa nhẩy, vạch lên những đường nét mê hoặc trong một vài điệu lân tinh. Ánh sáng len lỏi, thâm nhập cả vào những vật vô tri, khiến mọi vật như bừng tỉnh thức, và chuyển

động bước đi theo những bước chân phù thủy.

Không biết trong bao nhiêu phút đồng hồ, tiếng nhạc lạ lùng như kéo dài thời gian đến hàng thể kỷ. Và suốt trong thời gian ấy, bọn khách hàng ngỗ ngược trước – những “kiêu binh của nửa thế kỷ hai mươi” – tự dưng trở nên hiền, lành như những con chiên, im lặng một cách sùng bái. Họ vẫn ngồi yên chỗ cũ, mắt mở to như không nhìn vào đâu hết, những cặp mắt giờ đây xanh biếc như chứa đựng cả một vùng trời nào huyền hoặc – có lẽ là vùng trời vô hình, vô ảnh của tâm linh, của siêu ý thức. Một vùng trời tín mộ ngủ thiếp trong vòng “từ trường” của ma lực âm thanh. Họ, những người lính lê dương vong mệnh mang dòng máu Nhật Nhĩ Man hiếu chiến, giờ đây như đã không còn say rượu, mà chỉ còn say một cái gì vô cùng huyền bí. Một cơn say gần như ma quái, hay thần linh cũng thế. Họ có nét mặt củạ

những kẻ đang bị thôi miên.

Bản nhạc bỗng hết đột nhiên. Sau đến năm phút, tất cả mọi người đều im lặng. Rồi bốn người lính Đức từ tốn và trịnh trọng đứng lên, trịnh trọng giờ tay chào các nhạc sĩ kiểu nhà binh, đoạn rất lịch sự lễ độ là khác – rút lui ra khỏi quán, sau khi thánh toán tiền hàng đầy đủ, không quên bồi thường chiếc bóng đèn điện vỡ rất chu đáo, và thưởng tiền cho bồi bàn rất trọng hậu.

Nguyễn thở phào một hơi dài khép bản nhạc vừa dạo lại: Đó là bản “Danse Macabre” của Saint-Saens[1].

Câu chuyện Nguyễn Xuân Khoát và ban nhạc “Vũ Khúc Ma Quái” đã khiến tôi nhớ người bạn nghệ sĩ thân hình cao mảnh khảnh ấy thêm một chút. Giờ đây Khoát đang sống dưới chế độ vô sản miền Bắc, ở bên kia vỹ tuyến. Hiện Khoát đang làm gì, tôi không được biết, nhưng bao giờ thì Nguyễn Xuân Khoát cũng chỉ là Nguyễn Xuán Khoát, tác giả nhiều nhạc phẩm quen thuộc từ giai đoạn “mở dường soạn đạo” của nền tân nhạc Việt Nam – những nhạc phẩm đậm đà dân tộc tính, hồn nhiên, chất phác và tế nhị, như “Trấn Thủ Lưu Đồn”, “Lơ Thơ”, “Con Cò Mả Đi Ăn Đêm”, “Con Mèo Trèo Cây Cau”, “Con Vỏi Vòi Voi”, “Thẳng Bờm” V. V…[2].

Mà chính Nguyễn Xuân Khoát cũng giống như một “Thằng Bờm” ngây thơ nhưng hóm hỉnh. Ai đã được xem anh, giữa núi rừng Việt Bắc (hồi tản cư) tự trình bày bản nhạc “Thằng Bờm” sẽ thấy Thằng Bờm chính là hiện thân của anh, và có lẽ không ai trình bày bản nhạc đó “tuyệt” hơn anh ! Anh không tốt giọng lắm, nhưng anh hát có hồn và có một cái duyên lạ lùng quyến rũ người nghe. Với bộ quần áo nâu cũ, với mái tóc kéo lên dựng đứng giữa trán như một cái bờm, anh nhe răng và cười “khi ! khi !” sau câu hát cuối cùng “Phú ông xin đổi nắm xôi, bờm cười” thì ai cụng phải nhận rằng có lẽ anh giống Thằng Bờm hơn cả Thằng Bờm thật sự!

Hình ảnh Nguyễn Xuân Khoát, nhạc sĩ của hàng ngũ tiền phong, hiện đến trong tâm tưởng tôi, từ “Quán Nghệ Sĩ” đến núi rừng Việt Bắc, ở hình thức một Nguyễn Xuân Khoát ôm cây đàn Contrebasse khổng lồ, hay qua vóc dáng một thằng bờm ngớ ngẩn, cũng chỉ là một Nguyễn Xuân Khoát mà thôi, một Nguyễn Xuân Khoát hồn nhiên, thủ thỉ, một Nguyễn Xuân Khoát với thứ nghệ thuật thuần túy cảm người bằng trực giác, thứ nghệ thuật ấy ấn tượng trong lòng người, thứ nghệ thuật của những âm đn Contrebasse;, của những nét nhạc Danse Macabre. Nếu không phải là thế, thì anh còn cò thể là gì khác ? Đừng bắt anh đặt một lá cờ máu vào tay Thằng Bờm.

Nguyễn Xuân Khoát cũng như Thằng Bờm Việt Nam vốn bản chất thuần lương, nhất định sẽ đau lòng vô cùng nếu phải bắt buộc nói lên thứ ngôn ngữ đầy tạp thanh của hận thù, phản bội, để kêu gào máu xương, đấu tố những phú ông vô tội đã từng cho Bờm nắm xôi, và cho Bờm nụ cười…

Vậy mà những kẻ nghệ sĩ như Nguyễn Xuân Khoát, suốt bao năm tao lọan, đã phải ôm đàn đi khắp núi sông, để rồi lại ôm hận trở về Hà Nội, ép mình trong khuôn khổ tù túng của một cuộc sống giả tạo – trở về để thấy mình chợt “tỉnh giấc chiêm bao” sau khi đã “chín năm đốt đuốc soi rừng”… như trường hợp của Nguyễn Bính thi sĩ, và cũng như trường hợp của Văn Cao, Trần Dzần, Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Phan Khôi… nghĩa là như tất cả những kẻ sĩ sẵn sàng “tử vi đạo” – cái Đạo Tự Do – trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm – những văn nghệ sĩ chống đối với chế độ độc tài đảng trị miền Bắc, vì muốn bảo vệ cá tính và nhân phẩm, vì muốn giữ lại nguyên vẹn linh hồn và trái tim.

Khi vụ Nhân Văn Giai Phẩm bừng lên dạo ấy, không thấy có ai nhắc đến Nguyễn Xuân Khoát trong danh sách các nạn nhân. Tuy nhiên tôi vẫn tin rằng trái tim Nguyễn Xuân Khoát là trái tim Nhân Văn Giai Phẩm, linh hồn Nguyền Xuân Khoát cũng là linh hồn Giai Phẩm Nhân Văn.

Chỉ tiếc rằng ở bên này vỹ tuyến không có Nguyễn Xuân Khoát hiện diện cùng chúng ta. Nếu có Khoát ở đây, và nếu lại họp mặt được thêm một số kiện tướng của làng Nhạc đồng cảnh, đồng tình với Khoát, như Văn Cao, Tử Phác, Tô Vũ, Đoàn Chuẩn, Hoàng Giác… và cả anh chàng Tạ Phước lý thuyết gia, hẳn là tiếng sắt, tiếng đồng tiêu tao tha hồ có dịp rung lên âm hưởng thanh thoát, phóng khoáng và hào hứng.

Tiếng đại hồ cầm của Nguyễn Xuân Khoát sẽ lại có hứng khởi nẩy lên những cung bậc hòa âm trầm bổng, như ngày nào xưa, những âm điệu mê hoặc của bản nhạc “Vũ Khúc Ma Quái” đã có hiệu lực chiêu dụ, trấn áp được tà ma, đưa Hồn Người trở về hào quang của cái Đẹp.

Trích từ “Đốt lò hương cũ” – Đinh Hùng – 1971

 

[1] Darise Macabre (Vũ Khúc Ma Quái): Một Thi Khúc Hơp Tấu (poème symphonique) thuộc loại “nhạc miêu tả”, gợi ấn tượng rùng rợn và quái đản với những bộ xương ma từ dưới mồ hiện lên nhẩy múa, va chạm lóc cóc. Nhạc phẩm nổi tiếng của Saint Saens, nhạc sĩ Pháp (1835 – 1921).

[2] Tôi chỉ xin kể tới một số nhạc phẩm của Nguyễn Xuân Khoát lấy chất liệu ở ca dao hoặc ở những câu hát bình dân, những bản nhạc làm sống lại tiết điệu cổ sơ của dân tộc – và chưa kể tới những sáng tác có “thời đại tính” của Khoát như Hồ Xuân, Tiếng Chuông Nhà Thờ, Uất Hận, … Trong số các nhạc phẩm có tính cách dân ca kể trên, một vài nhạc sĩ khác cũng tìm đến một vài đề tài trùng hợp phát xuất chung từ một nguồn gốc.

Nghe nói sau này Khoát còn thực hiện được nhiều tác phẩm đáng kể, với công trình nghiên cứu Nghệ thuật Ca Trù, vì chính Khoát từng là một “cây” đàn đáy tài tử rất phong độ…

Học Viết
Học Viết là chuyên trang về tuyển chọn các áng văn chương Việt Nam, qua đó giúp cho độc giả nắm được thế nào là một bài viết hoặc một tác phẩm hay.
Share:

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *