Điểm sáchGIỚI THIỆU SÁCH

“CHƯỞNG KIM DUNG” CÓ PHẢI LÀ VĂN HỌC?

Tôi là loại người mê các tiểu thuyết võ hiệp. Niềm mê ấy, có lẽ, bắt nguồn từ tuổi thơ. Một vùng quê yêu tĩnh ven sông Đáy. Con đê dài biếc xanh cỏ. Lũ trẻ chăn trâu thò lò mũi chúng tôi ngồi túm tụm nghe anh lớn đọc truyện kiếm hiệp. Sau này, khi biết đọc, tôi ngấu nghiến các truyện Bồng Lai hiệp khách, Giao Trì nữ hiệp, Long hình quái khách. Chúng tôi đi bộ hàng chụp cây số để trao đổi sách…

Nhưng rồi khi lớn lên, chúng tôi được dạy rằng đó là những thể loại sách tầm thường, nhảm nhí, chưa kể có thể gây những độc hại. Tôi cũng thấy rằng nếu đọc nhiều kiếm hiệp có thể làm hỏng thị hiếu. Nếu chỉ ham đọc những loại sách có cốt truyện hấn dẫn, tình tiết ly kỳ… thì khó kham nổi những tiểu thuyết hiện đại không có cốt truyện, chỉ có tâm lý, thậm chí là ngoại tâm lý, mà không có hành động… Mãi đến năm Bảy Nhăm, khi người ta rộ lên đọc chưởng Kim Dung, tôi vẫn giữ thái độ “kính nhi viễn chi”. Rồi một đêm kia, trong một chuyến đi nhớ độ đường, nằm một mình nơi nhà khách tỉnh, trong tay không có gì để đọc. Anh bạn phòng bên cho mượn cuốn Tiếu ngạo giang hồ để “giết thời gian”. Sau một phút ngần ngại, tôi cầm đọc. Thế là cả một thế giới đắm say thời ấu thơ tưởng đã được đào sâu chôn chặt lại đội mồ sống dậy. Một thế giới của những cái phi thường, những nhân vật phi thường – tốt cũng như xấu, những hành động phi thường… Một thế giới tràn ngập âm thanh, màu sắc khác hẳn với cuộc sống thường nhật nhạt nhẽo, tủn mũn, đầy những toan lo. Sau tiếng đàn tái hợp này, tôi lại mê say đọc tiếp những cuốn khác của Kim Dung như Thiên Long bát bộ, Lục mạch thần kiếm, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu đại hiệp…
Bạn bè vẫn có người dè bỉu chuyện chưởng, hoặc mỉm cười độ lượng vì thói ham chưởng của tôi. “Nhân vô thập toàn, ai cũng có gót chân Asin cả” – ánh mắt và nụ cười của họ nói lên điều đó. Rằng mê thì thật là mê, nhưng đôi khi trong tôi vẫn cứ loé lên một phản tỉnh: “ Tại sao tôi lại thích tiểu thuyết võ hiệp, và chưởng Kim Dung có phải là văn học không?”. Có lẽ, chỉ khi giải đáp được băn khoăn này, tôi mới khỏi phải giấu thú đọc chưởng như lấp kiếm đi một thói xấu…

Tiểu thuyết võ hiệp thường chỉ ra đời như một thể loại ở những nơi tồn tại một tầng lớp kỵ sĩ, tức một tầng lớp chiến binh chuyên nghiệp. Họ có lối sống riêng với những quan niệm, lý tưởng, quy tắc khác với người thường. Tuy triệt để phục tùng lối sống đó, nhưng ý thức cá nhân của họ bắt đầu phát triển. Đó là tầng lớp hiệp sĩ của Châu Âu trung đại, những người hiệp khách ở Trung Hoa và tầng lớp võ sĩ đạo của Nhật Bản… Độc giả Việt Nam thông thường không có điều kiện đọc chính vào tiểu thuyết võ hiệp thì vẫn có thể hình dung về tầng lớp này qua bóng dáng của nó trong Ba người lính ngự lâm của Alexandre Dumas bố, Hiệp sĩ Ivanhoe của Walter Scott, Musashi của Eiji Uoshikawa… nhất là ở các truyện kiếm hiệp dân thường, nhất là những người dân ở xứ sở nông nghiệp như người Việt, sống ổn cư sau lũy tre làng, tuân theo nhịp điệu miên man của các mùa vụ.

Cũng như truyện trinh thám, truyện khoa học viễn tưởng, truyện danh nhân; hồi ký chính trị, tiểu thuyết minh hoạ, phiêu lưu… đều là cận văn học (paralitérature), tức những sáng tạo không dành quyền ưu tiên cho việc tìm kiếm cái đẹp, tức không coi chức năng thẩm mỹ là dominante (chủ đạo), mà để thỏa mãn các chiều kích cũng cơ bản khác trong con người: óc tò mò, nhu cầu giải trí, sự ham hiểu biết, thích trải nghiệm những cảm giác mạnh, sự phát triển óc tưởng tượng, nhu cầu được sống những không gian và thời gian khác với ở đây và bây giờ… Nhưng, xét cho cùng, cận văn học cũng chỉ là xuất phát điểm, một thứ thành phần xuất thân. Nhờ tài năng cá nhân, nhờ xu hướng thời đại, nhiều tác phẩm cận văn học đã trở thành văn học, một thứ văn học đích thực, mỹ văn. Đông Ki Sốt cũng là tiểu thuyết hiệp sĩ, mặc dù nó ra đời là để chấm dứt dòng tiểu thuyết hiệp sĩ trung đại lúc này đã trở nên nhàm chán, một “phản – tiểu thuyết hiệp sĩ*. Các cuốn rìu bút dân tộc học của Claude – Lévi-Strauss, của Malinowski như Nhiệt đới buồn, Người Argonautes ở Tây Thái Bình Dương… đều được coi là những tác phẩm văn chương. Nhiệt đới buồn của Lévi-Strauss, thậm chí, trong một cuộc trưng cầu ý kiến độc giả, còn nằm trong số mười tác phẩm của thế kỉ XX đáng được đóng côngtennơ gửi vào tương lai.

Chưởng Kim Dung cũng xuất thân từ một thể loại cận văn học – tiểu thuyết võ hiệp – nhưng đã trở thành văn học, bởi lẽ tác phẩm của nhà văn này đã tạo ra một thế giới nghệ thuật. Thế giới ấy có bờ cõi và quy luật riêng của nó. Quy luật đó là Kinh Dịch, khởi điểm của những khởi điểm của nền văn minh trung hoa. Và cùng với nó là thuyết âm dương, ngũ hành. Các triết lí này trở thành nguyên tắc cấu trúc của cách xây dựng nhân vật, võ thuật, khí công, vũ khí… thậm chí chi phối cả cách đặt tên người, tên thế võ, binh khí. Thế giới Kim Dung dựa trên sự đối lập mà thống nhất âm dương: trong âm có dương, trong dương có âm. Như một cái que có thể bẻ đôi, rồi lại bẻ đôi… cứ thế đến vô tận, thế giới nhân vật Kim Dung cũng chia thành âm dương (chính tà, tốt xấu…), rồi lại chia thành âm âm/âm dương và dương dương/âm âm… cũng đều vô tận. Điều này tạo nên sự thống nhất, một mạch lạc nội tại của tác phẩm.

Thế giới Kim Dung, nếu chỉ như vậy, thì cũng dễ rơi vào đơn điệu, xám màu nguyên lý. Nghệ thuật không chỉ là nguyên lý mà còn là cuộc sống. Nghệ thuật không chỉ là đối xứng, hoặc cân đối, mà còn là phản đối xứng. Kim Dung chống lại cái nhìn thế giới một cách cứng nhắc, bất động, sự phân biệt chính tà một cách tiên thiên, nhất thành bất biến. Bởi vậy, nhân vật chính của nhà văn thường xuất thân từ tà phái, hoặc chí ít cũng dính dáng đến tà phái, những Trương Vô Kỵ, Doanh Doanh, Triệu Minh, Lệnh Hồ Xung… Cuối cùng, họ đã gạt bỏ được mọi hiểu lầm để khẳng định được sự “gần bùn mà chẳng…” của mình. Bởi vậy, nhân vậy của Kim Dung có nội tâm, không đơn giản, cứng nhắc như đa số các nhân vật trong tiểu thuyết kiếm hiệp trước Kim Dung hoặc những tiểu thuyết chưởng của nhiều tác giả cùng thời với Kim Dung.

Là tiểu thuyết võ hiệp, nhưng thế giới Kim Dung có đầy đủ những vấn đề của cuộc sống và do cuộc sống đặt ra: tình yêu, căm thù, ghen tuông, âm nhạc, hội họa, trà đạo, tửu đạo, thời trang… Ngoài ra, nhà văn còn là một người dựng chuyện rất “mả”. Người ta có thể tìm thấy ở chưởng Kim Dung những vụ án hình sự ly kỳ, những truyện gián điệp và phản gián tài tình. Cũng như tiểu thuyết của Dostoievski, tiểu thuyết Kim Dung được xây dựng trên những xung đột căng thẳng. Nhà văn chẳng những biết tháo gỡ sự căng thẳng đó một cách bất ngờ, mà còn biết hãm, biết kéo dài sự căng thẳng đó bằng cách đan cài vào mạch của câu chuyện những đoạn trữ tình ngoài đề tuyệt vời về thư pháp, hội họa, nghệ thuật trồng hoa, nghệ thuật uống rượu, luận bàn về sách cổ… Bởi vậy, người đọc Kim Dung còn tiếp thu được ở ông nhiều tri thức về lịch sử, văn hoá, tôn giáo… của xã hội Trung Hoa. Sau cùng, Kim Dung có một văn phong riêng biệt, sáng sủa, duyên dáng và hấp dẫn, điều còn nhiều ảnh xạ trong những bản dịch Tiếng Việt của Sài Gòn vốn bị xâm thực bởi nhiều yếu tố thực dụng. Tất cả những điều trên làm chưởng Kim Dung trở thành nhiều tác phẩm văn chương độc đáo, khác hẳn với những chưởng của những tác giả khác chỉ là một thứ cận văn học. Ở khía cạnh này, có thể nói, tiểu thuyết chưởng của Kim Dung là một thứ tiểu thuyết phản chưởng. Lý thuyết thì xám, còn cây đời mãi mãi xanh tươi. Sự phân chia thành văn học, văn học đích thực, mỹ văn, cận văn học… chỉ là tương đối. Luôn luôn có những tác phẩm vượt qua thành phần xuất thân của mình để vươn lên, cũng như luôn có những tác phẩm tụt khỏi thành phần cơ bản. Điều đó, như đã nói trên, chủ yếu phụ thuộc vào tài năng cá nhân của tác giả. Bởi vậy, không lấy làm ngạc nhiên khi thấy trong những năm gần đây Kim Dung được đánh giá rất cao ở Trung Quốc, được mời về nước và trao hàm Giáo sư danh dự Đại học Bắc Kinh. Thậm chí, có nhà nghiên cứu còn lấy làm lạ khi Kim Dung chưa nằm trong danh sách các nhà văn ứng cử giải Nobel văn học. 

Chú thích:
* Khái niệm”phản-tiểu thuyết hiệp sĩ” tôi dùng ở đây vẫn có nghĩa là tiểu thuyết hiệp sĩ đứng về mặt thể loại, nhưng đã có cách tân táo bạo, nâng cao một bước về chất làm cho nó khác hẳn với tiểu thuyết hiệp sĩ cũ. Cách hiểu này phù hợp với cách hiểu chung của văn học thế giới ở những khái niệm phản-tiểu thuyết, phản-kịch, phản-thơ…

Đỗ Lai Thuý
In lần đầu trên Tạp chí Văn học nước ngoài, số 2-1998 
Bài có trong cuốn Từ cái nhìn văn hoá, tái bản năm 2018, nhà xuất bản Tri Thức 

Nguồn: Facebook Song Thuy

Học Viết
Học Viết là chuyên trang về tuyển chọn các áng văn chương Việt Nam, qua đó giúp cho độc giả nắm được thế nào là một bài viết hoặc một tác phẩm hay.
Share:

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *